Qua những trang sách, tôi phiêu lưu trong những thế giới khác, khác với thế giới thực trần trụi này!
Thứ Sáu, 22 tháng 5, 2020
Cái giếng quê
Tôi nghĩ ai xa quê cũng có nhiều hồi ức, hoài niệm về nơi chốn, đồ vật và con người gắn bó thân thương vương vấn thuở còn thơ; đó là những hàng rào hoa dâm bụt đỏ rực trước sân, là hàng tre dài xào xạc mỗi khi chiều về, là những mối tình vụng dại tuổi học trò...Còn tôi thì nhớ hoài cái giếng quê sau nhà, nơi gom cả một bầu trời thương nhớ về những năm đầu đời nghèo khó nhưng đẹp đẽ của tuổi thơ.
Kỷ niệm về nó thì mênh mông đong đầy. Lúc ba tuổi, hai anh em tôi suýt chết khi nhảy tung hứng giữa cái nong đậy giếng, quả là một trò chơi mạo hiểm cảm giác cao khi chờ ba mẹ làm đồng về, cái nong phơi lúa hồi đó ông nội tôi làm bằng tre ngâm nên rất dẻo dai, nếu không thì ùm ùm rồi xong... Thế rồi ông nội tôi tốn khá nhiều lúa để xây thành giếng ngay sau đó. Hồi đó, ông chú tôi cua được thím làng bên rất xinh, vì xinh nên thím nổi tiếng và được nhiều chú ve vãn, ông nội tôi không ưng vì nghĩ thím không nết na! Ông chú tôi dọa tự tử nếu không cưới được thím làng bên xinh đẹp ấy. Vào một đêm trăng non, sau một tiếng ÙM vang như tiếng bom gần giếng, ông chú tôi mất tích. Cả nhà toáng lên tưởng ông chú tôi tự tử vì tình, ông chú có kinh nghiệm leo giếng được mời đến, lặn ngụp một hồi vớt được hòn đá ong vô tội, ông nội tôi qua cơn đau tim và sau đó thì tình yêu được xe duyên trong nụ cười hớn hở của ông chú tôi. Còn nữa, vào những sáng mùa đông lạnh căm căm, hai anh em tôi nạnh nhau không ai chịu xách nước từ giếng vào ảng sành sau nhà. Rồi những đêm trăng mờ mờ các cô tôi hay khỏa thân tắm đêm cho mát. Bọn trẻ ranh chúng tôi trong khi chơi trốn tìm len lén nhìn trộm từ những lùm chuối, bụi cây. Tiếng nước giếng rào rạt xối giữa đêm khuya, như xối vào tâm hồn non nớt của chúng tôi những dòng cảm xúc mát lành, tưng tức...
Cái giếng quê của tôi giờ rêu phong phủ đầy, những bụi chuối xanh ngày xưa đã mục nát và ngủ êm dưới lòng đất quê. Hiện thực là ở đâu, nó là một khoảng quá khứ dài đã in dấu sâu xa trong tiềm thức, hay mãi mãi là lời hứa hão huyền chờ ngày trở về? Tiềm thức đẹp đẽ ấy sẽ theo tôi mãi, đến khi nào lời hứa trở về thành hiện thực, tôi sẽ về tỉa tót lại hàng rào hoa dâm bụt, tỉa tót lại cái giếng quê, tỉa tót lại đời mình, khơi lại những giọt nướt mát lành dưới lòng giếng và trong lòng mình nữa.
Hình: cái giếng quê Quảng Ngãi của tôi hiện tại.
Thứ Năm, 21 tháng 5, 2020
Chiến Tranh và Hòa Bình
Đây là cuốn sách đồ sộ về nhiều mặt, đồ sộ về số trang, đồ sộ về tư tưởng mà Tolstoy muốn đề cập thông qua nhiều tầng lớp nhân vật và sự quan sát tinh tế đời sống thời đó ở nước Nga. Đã đọc hai bộ sách đồ sộ khác như Sông Đông Êm Đềm của Sholokhov, Núi Thần của Thomas Mann, nhưng đến Chiến Tranh và Hòa Bình thì tôi thật sự choáng ngợp và thích thú. Nó là cuốn tiểu thuyết kinh điển chương hồi truyền thống không khó đọc và cảm thụ, không khó đọc kiểu như vài cuốn của Faulner (Âm thanh và cuồn nộ, Khi tôi nằm chết...), tuy nhiên ở đây với những độc giả trung niên như tôi có thể rút ra nhiều tri thức về chiến tranh, về hòa bình, về tư tưởng tôn giáo, về Hội Tam Điểm, về đời sống của giới tư sản Nga thời cuối thế kỷ 19.
Mới đọc hết một phần ba cuốn sách, tôi không thể ngăn mình viết ra đây vài dòng cảm nhận cá nhân về nó. Một Andrey từng trải, một Piotr đang hoang mang đi tìm chân lý của đời sống, một kị binh Roxtov trẻ trung sốc nổi nhiệt tình, một đời sống salon phòng khách xa hoa, một sự phi lý và hư vô của chiến tranh, những cuộc tranh luận về tôn giáo cực kỳ sâu sắc dần hiện ra qua từng chương sách.
Tôi muốn trích một đoạn văn dưới đây mà theo tôi nó mang nhiều tính triết lý, sự chiêm nghiệm sâu sắc về đời sống con người, con người và thiên nhiên chỉ là một thực thể hòa hợp, đó là chân lý ngàn đời. Ta phải sống thật chậm rãi, có đôi lúc ta phải quên đi cơn lốc cuốn cuồng vội vã xô bồ của đời sống thực để sống suy tư. Một bài báo viết về cuộc sống số trong thời đại Internet ngày nay nói rằng việc đọc và nghiền ngẫm ngôn từ không chỉ mang giá trị về tri thức mà còn đem lại những rung động về mặt trí tuệ. Chúng đem lại những khoảng lặng để tâm trí con người có thể chiêm nghiệm, đúc rút ra những kết luận cho riêng mình. Nếu những khoảng lặng này bị đánh mất, hoặc bị lấp đầy bởi các nội dung gây phân tán khác, con người dễ đánh mất một thứ quan trọng đối với bản thân lẫn văn hoá của chính mình.
"Dưới ánh nắng xuân ấm áp, chàng ngồi trên xe ngựa, đưa mắt ngắm những ngọn cỏ mới mọc, những nhánh lộc bạch dương mới nhú và những làn mây trắng đầu tiên của mùa xuân lơ lửng trên nền trời xanh trong sáng. Chàng không nghĩ gì hết, chỉ vui vẻ và vô tư lự ngắm cảnh bên dường. Cỗ xe kiệu đi qua chỗ bến phà, nơi mà cách đây một năm chàng đã nói chuyện với Piotr, rồi đi qua một cái làng lầy lội, những khoảng sân đập lúa, những cánh đồng lúa mì mùa đông đang lên. Xe lăn theo con đường thoai thoải đi xuống một chiếc cầu còn đọng lại ít tuyết, rồi lại leo lên một cái dốc đất sét trơn lầy đi qua những dải đất đầy những gốc rạ và những bụi cây lác đác đâm chồi xanh, rồi tiến vào một khu rừng bạch dương chạy dài hai bên đường. Trong rừng rất ấm, phần nào, nóng bức nữa là khác; không có lấy một hơi gió thoảng qua. Những cây bạch dương lốm đốm những khóm lá xanh mọng đứng im lìm không lay động, và những ngọn cỏ non, những bông hoa tím nhạt đã nhú lên trên lớp lá vàng rụng từ năm ngoái. Mấy cây thông nhỏ mọc lác đác trong khóm bạch dương, màu lá ngàn đời xanh thẳm của nó khiến người ta nhớ lại mùa đông mà bực mình. Chạy vào đến rừng, mấy con ngựa kéo xe thở phì phò, mình càng toát mồ hôi nhiều hơn trước. Anh hành bộc Piotr nói với người xà ích một câu gì đó không rõ và người xà ích khen phải. Nhưng hình như Piotr chưa thoả mãn với sự đồng tình của người xà ích: anh ta xoay người trên ghế đánh xe, ngoảnh về phía chủ mỉm cười lễ phép nói: - Thưa đại nhân, thật là khoan khoái.
- Cái gì?
- Bẩm thật là khoan khoái ạ.
"Anh ta nói gì thế nhỉ? - Công tước Andrey nghĩ thầm
- Phải chắc là nói về mùa xuân, - chàng nghĩ, mắt nhìn sang hai bên đường.
- Ừ cảnh vật mới đó mà đã xanh rờn, chóng quá! Bạch dương, điêu lê cả xích dương nữa, đều đã bắt đầu, còn cây sồi thì vẫn chưa thấy gì. Phải đây, đúng là một cây sồi rồi". Bên vệ đường sừng sững một cây sồi. Có lẽ nó già gấp mười lần những cây bạch dương mọc thành khóm rừng này, nó to gấp mười và cao gấp đôi mấy cây bạch dương ấy. Đó là một cây sồi rất lớn hai người ôm không xuể, có những cành có lẽ đã gãy từ lâu, vỏ cây nứt nẻ đấy những vết sứt sẹo. Với những cánh tay to sù sì không cân đối, với những ngón tay quều quào xòe rộng, nó như một quái vật già nua cau có và khinh khỉnh đứng giữa đám bạch dương tươi cười. Chỉ có một cây sồi là không chịu đón lấy mùa xuân và ánh nắng.
Mùa xuân, tình yêu, hạnh phúc!- Cây sồi già như muốn nói thế - Làm sao cái điều dối trá khờ khạo và điên rồ như thế mà mãi các người không chán! Quanh đi quẩn lại chỉ có thế, và vẫn chỉ là một sự dối trá mà thôi! Làm gì có mùa xuân, có ánh nắng, có hạnh phúc? Kìa, các người nhìn xem, những cây thông chết cằn chết rụi, bao giờ cũng vẫn thế, và ta nữa, đang đang những ngón tay rạn gãy, sây sát từ lưng ta, từ sườn ta mọc lên; xưa kia nó mọc như thế nào thì ta bây giờ cũng như thế, và ta không tin vào những niềm hi vọng và những sự dối trá của các người.
Công tước Andrey ngoái cổ lại cây sồi mấy, lần trong khi xe đi qua khóm rừng, dường như chờ đợi ở nó một cái gì. Dưới gốc cây sồi cũng có hoa, có cỏ, nhưng nó vẫn thế, cau có, lầm lỳ, què quặt và kiên gan đứng im lìm giữa đám hoa cỏ ấy."Phải, cây sồi nó nói phải, một ngàn lần phải, - công tước Andrey nghĩ, - Để cho người khác, những người còn trẻ, họ lao vào sự dối trá ấy, còn chúng mình thì đã biết đời rồi, - cuộc đời của chúng mình hết rồi"! Và một loạt những ý tưởng mới mẻ. Vô hi vọng nhưng buồn buồn dìu dịu do cây sồi gợn lên nảy sinh trong tâm hồn công tước Andrey. Trong chuyến hành trình này, chàng như đã suy nghĩ lại cả cuộc đời của mình và một lần nữa chàng lại đi đến cái kết luận trước kia, một cái kết luận đượm màu bi quan nhưng cũng làm cho lòng chàng dịu lại, là bây giờ chàng không nên mưu đồ một cái gì nữa hết, rằng chàng phải sống nốt cho hết cuộc đời mình, không làm điều xấu, không ưu tư, không ước muốn gì nữa.
Mới đọc hết một phần ba cuốn sách, tôi không thể ngăn mình viết ra đây vài dòng cảm nhận cá nhân về nó. Một Andrey từng trải, một Piotr đang hoang mang đi tìm chân lý của đời sống, một kị binh Roxtov trẻ trung sốc nổi nhiệt tình, một đời sống salon phòng khách xa hoa, một sự phi lý và hư vô của chiến tranh, những cuộc tranh luận về tôn giáo cực kỳ sâu sắc dần hiện ra qua từng chương sách.
Tôi muốn trích một đoạn văn dưới đây mà theo tôi nó mang nhiều tính triết lý, sự chiêm nghiệm sâu sắc về đời sống con người, con người và thiên nhiên chỉ là một thực thể hòa hợp, đó là chân lý ngàn đời. Ta phải sống thật chậm rãi, có đôi lúc ta phải quên đi cơn lốc cuốn cuồng vội vã xô bồ của đời sống thực để sống suy tư. Một bài báo viết về cuộc sống số trong thời đại Internet ngày nay nói rằng việc đọc và nghiền ngẫm ngôn từ không chỉ mang giá trị về tri thức mà còn đem lại những rung động về mặt trí tuệ. Chúng đem lại những khoảng lặng để tâm trí con người có thể chiêm nghiệm, đúc rút ra những kết luận cho riêng mình. Nếu những khoảng lặng này bị đánh mất, hoặc bị lấp đầy bởi các nội dung gây phân tán khác, con người dễ đánh mất một thứ quan trọng đối với bản thân lẫn văn hoá của chính mình.
"Dưới ánh nắng xuân ấm áp, chàng ngồi trên xe ngựa, đưa mắt ngắm những ngọn cỏ mới mọc, những nhánh lộc bạch dương mới nhú và những làn mây trắng đầu tiên của mùa xuân lơ lửng trên nền trời xanh trong sáng. Chàng không nghĩ gì hết, chỉ vui vẻ và vô tư lự ngắm cảnh bên dường. Cỗ xe kiệu đi qua chỗ bến phà, nơi mà cách đây một năm chàng đã nói chuyện với Piotr, rồi đi qua một cái làng lầy lội, những khoảng sân đập lúa, những cánh đồng lúa mì mùa đông đang lên. Xe lăn theo con đường thoai thoải đi xuống một chiếc cầu còn đọng lại ít tuyết, rồi lại leo lên một cái dốc đất sét trơn lầy đi qua những dải đất đầy những gốc rạ và những bụi cây lác đác đâm chồi xanh, rồi tiến vào một khu rừng bạch dương chạy dài hai bên đường. Trong rừng rất ấm, phần nào, nóng bức nữa là khác; không có lấy một hơi gió thoảng qua. Những cây bạch dương lốm đốm những khóm lá xanh mọng đứng im lìm không lay động, và những ngọn cỏ non, những bông hoa tím nhạt đã nhú lên trên lớp lá vàng rụng từ năm ngoái. Mấy cây thông nhỏ mọc lác đác trong khóm bạch dương, màu lá ngàn đời xanh thẳm của nó khiến người ta nhớ lại mùa đông mà bực mình. Chạy vào đến rừng, mấy con ngựa kéo xe thở phì phò, mình càng toát mồ hôi nhiều hơn trước. Anh hành bộc Piotr nói với người xà ích một câu gì đó không rõ và người xà ích khen phải. Nhưng hình như Piotr chưa thoả mãn với sự đồng tình của người xà ích: anh ta xoay người trên ghế đánh xe, ngoảnh về phía chủ mỉm cười lễ phép nói: - Thưa đại nhân, thật là khoan khoái.
- Cái gì?
- Bẩm thật là khoan khoái ạ.
"Anh ta nói gì thế nhỉ? - Công tước Andrey nghĩ thầm
- Phải chắc là nói về mùa xuân, - chàng nghĩ, mắt nhìn sang hai bên đường.
- Ừ cảnh vật mới đó mà đã xanh rờn, chóng quá! Bạch dương, điêu lê cả xích dương nữa, đều đã bắt đầu, còn cây sồi thì vẫn chưa thấy gì. Phải đây, đúng là một cây sồi rồi". Bên vệ đường sừng sững một cây sồi. Có lẽ nó già gấp mười lần những cây bạch dương mọc thành khóm rừng này, nó to gấp mười và cao gấp đôi mấy cây bạch dương ấy. Đó là một cây sồi rất lớn hai người ôm không xuể, có những cành có lẽ đã gãy từ lâu, vỏ cây nứt nẻ đấy những vết sứt sẹo. Với những cánh tay to sù sì không cân đối, với những ngón tay quều quào xòe rộng, nó như một quái vật già nua cau có và khinh khỉnh đứng giữa đám bạch dương tươi cười. Chỉ có một cây sồi là không chịu đón lấy mùa xuân và ánh nắng.
Mùa xuân, tình yêu, hạnh phúc!- Cây sồi già như muốn nói thế - Làm sao cái điều dối trá khờ khạo và điên rồ như thế mà mãi các người không chán! Quanh đi quẩn lại chỉ có thế, và vẫn chỉ là một sự dối trá mà thôi! Làm gì có mùa xuân, có ánh nắng, có hạnh phúc? Kìa, các người nhìn xem, những cây thông chết cằn chết rụi, bao giờ cũng vẫn thế, và ta nữa, đang đang những ngón tay rạn gãy, sây sát từ lưng ta, từ sườn ta mọc lên; xưa kia nó mọc như thế nào thì ta bây giờ cũng như thế, và ta không tin vào những niềm hi vọng và những sự dối trá của các người.
Công tước Andrey ngoái cổ lại cây sồi mấy, lần trong khi xe đi qua khóm rừng, dường như chờ đợi ở nó một cái gì. Dưới gốc cây sồi cũng có hoa, có cỏ, nhưng nó vẫn thế, cau có, lầm lỳ, què quặt và kiên gan đứng im lìm giữa đám hoa cỏ ấy."Phải, cây sồi nó nói phải, một ngàn lần phải, - công tước Andrey nghĩ, - Để cho người khác, những người còn trẻ, họ lao vào sự dối trá ấy, còn chúng mình thì đã biết đời rồi, - cuộc đời của chúng mình hết rồi"! Và một loạt những ý tưởng mới mẻ. Vô hi vọng nhưng buồn buồn dìu dịu do cây sồi gợn lên nảy sinh trong tâm hồn công tước Andrey. Trong chuyến hành trình này, chàng như đã suy nghĩ lại cả cuộc đời của mình và một lần nữa chàng lại đi đến cái kết luận trước kia, một cái kết luận đượm màu bi quan nhưng cũng làm cho lòng chàng dịu lại, là bây giờ chàng không nên mưu đồ một cái gì nữa hết, rằng chàng phải sống nốt cho hết cuộc đời mình, không làm điều xấu, không ưu tư, không ước muốn gì nữa.
Nhật ký thành phố
1. Từ quán cafe Guta quen thuộc, hắn thấy một đôi vợ chồng lữ khách người Tây cùng chia nhau thưởng thức ngon lành một ổ bánh mì kẹp thịt VN, họ bình thản đứng đó, ánh mắt tò mò quan sát đời sống của người dân bản xứ, những hàng quán cafe ghế xúp đông đúc bên vỉa hè, quang gánh bán đủ thứ hàng ăn vặt dưới gốc cây già, tòa nhà chung cư Nguyễn Huệ cũ kỹ với những ô vuông hàng quán cafe màu sắc sặc sỡ. Có thể họ vừa bứt khỏi nhịp điệu đời sống đơn điệu mòn mỏi và mục ruỗng để đến những vùng miền mới lạ với bao niềm hứng khởi ham mê khám phá và rồi sớm muộn gì khi trở về họ cũng sẽ trở lại cái nhịp điệu đều đều nhàm chán ban đầu ấy. Hắn cũng ko là ngoại lệ. Hắn ẩn mình, kiếm tìm trong văn chương những cuộc phiêu lưu, những đời sống khác, hằng mong lấp đầy cảm giác trống rỗng hay sự cô độc của linh hồn trong thực tại đầy phi lý và buồn thảm. Sự tự do ư, nó chỉ là sự tự do hư cấu mà thôi. Hắn nhập vai chàng phó cạo và thầy lang Rob J. Cole rong ruổi trên mọi nẻo đường, chiêm ngưỡng vẻ đẹp của thiên nhiên hùng vĩ của những miền Châu Âu sang Châu Á thời trung cổ, hắn dấn thân và trải nghiệm biết bao đời sống mới lạ, người tình mới lạ, những tôn giáo mới lạ, tri thức mới lạ theo từng vết xe ngựa lăn.
2. Tiếng đàn ghi ta mộc mạc chậm rãi lay động cùng tiếng hát của Phạm Hoài Nam đưa hắn về thực tại phũ phàng, "người yêu cũ có người yêu mới, bước qua tôi sao tim bồi hồi", hắn bồi hồi xốn xang khi mơ màng về một thời thanh xuân rực rỡ vui tươi, tay trong tay mà cảm giác rạo rực máu nóng rang tim loạn nhịp. Thời ấy đã rời xa. "Sài Gòn lạc nhau là mất, kẻ ở người đi lối vô...tình", nhưng đối với hắn Sài Gòn vẫn dang rộng vòng tay bao dung nhân hậu đón lấy bao kẻ tha hương, trong đó có hắn.
PHỤC SINH
Vì Covid19, tuần này gã được ANLON (Work From Home theo ngôn từ Tiếng Việt à, là được Ăn Ngủ Làm Ở Nhà hehe). Bên ngoài trời nóng hầm hập như đổ lửa, gã bấm bụng trốn vào phòng lạnh để làm việc, bất chấp bọn Điên đã âm thầm thay đổi bảng giá từ vài hôm trước mặc dù đang trong cơn đại dịch. Đến giờ nghỉ trưa, theo thói quen gã vớ chiếc kindle paperwhite, đọc tiếp vài chương trong cuốn “Phục Sinh” của Lev Tolstoy để giải trí. Những dòng chữ nhảy múa chập chờn, gã mơ màng thấy mình trở thành công tước Nekhliuzov và đang làm quan bồi thẩm của tòa đại hình xử một vụ án giết người cướp của, bị cáo là nàng Maxlova xinh đẹp.
Nekhliuzov đã chứng kiến một vở bi hài kịch đã diễn ra trước mắt chàng, mà trong đó mình là một kẻ diễn viên. Viên chánh án đến thật sớm, mong vụ án kết thúc nhanh để lão còn có thời gian ghé khách sạn với cô nhân tình đã hẹn trước sau giờ xét xử. Qua lời khai của bị cáo cùng nhân chứng và vật chứng rõ ràng, các quan bồi thẩm đều cho rằng cô nàng Maxlova vô tội, hai kẻ kia đang vu oan cho nàng để tránh tội. Tại đây, Nekhliuzov đã nhận ra Maxlova là nàng thôn nữ trinh nguyên Katiusa mà ngày xưa thuở thanh xuân chàng đã yêu và hái quả ngọt và rồi bỏ rơi nàng, và rồi giờ đây chàng lại nhẫn tâm dự phần tạo ra án oan cho nàng. Giờ đây, một sự ngẫu nhiên kỳ dị đã gợi cho Nekhliuzov nhớ lại tất cả câu chuyện cũ, chàng ghê tởm chính mình và cũng ghê tởm cái tòa đại hình đang diễn kịch trước mắt mình. Chàng nhận ra họ toàn là một lũ hợm hĩnh, ngu dốt, dùng quyền lực của mình để tuyên án nhiều vụ oan sai phục vụ cho nhiều động cơ bất chấp công lý và dư luận. Và cụ thể ở đây, chàng nhận ra rằng vì thói quan liêu, đoàn bồi thẩm chỉ làm việc qua quít cho xong, lời luận tội "Có tội, nhưng không có ý định giết người" của đoàn bồi thẩm đã đẩy nàng Maxlova xinh đẹp vào án oan và bị đày ải khổ sai qua tận xứ Siberia.
Giấc ngủ mơ màng ngắn ngủi chưa kịp để gã công tước Nekhliuzov bất đắc dĩ hoàn thành sứ mệnh trong hành trình giải oan cho nàng người yêu cũ, nguyện nối lại mối lương duyên ngày xưa với nàng và phục sinh đời sống tinh thần của mình nơi nước Chúa, gã lại mơ thấy mình trở lại thành gã công chức quèn làm “thuơ” để sống qua ngày, theo lời vợ dặn chiều tan sở gã tạt qua cô hàng thịt trẻ trung nói em ơi bán cho anh một kí đùi em nhé, đùi em tươi nhưng sao mắc quá, thủ tướng bảo giảm giá rồi mà. Em gái cười qua chiếc khẩu trang mỏng, đôi mắt long lanh trả lời vậy anh lên TV mà mua nhá nhá. Gã vui vẻ móc ví ra chiều cảm thông và ngượng ngịu “ Ờ, mùa covid mà, còn sống là vui rồi, em nhỉ”.
09-05-2020
09-05-2020
Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2020
CUỘC SỐNG CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT KHÔNG CHẤM DỨT TRONG THẾ GIỚI NÀY
LEV TOLSTOI
(Trích Đường Sống)
Nhưng niềm tin dị đoan về
cái chết còn trở nên rõ ràng hơn, không nói từ phương diện khác, mà chỉ xét từ
chính thực chất cuộc sống như chúng ta nhận thức về nó. Một người anh của tôi đã
từng sống như tôi, song bây giờ không còn sống như tôi đang sống nữa. Cuộc sống
của anh ấy từng là ý thức của anh ấy và nó đã diễn ra trong những điều kiện tồn
tại thể xác của anh ấy; có nghĩa là giờ đây không còn nơi chốn và thời gian cho
sự hiển lộ ý thức của anh ấy, và anh ấy không còn nữa đối với tôi. Anh tôi từng
tồn tại, tôi từng giao tiếp với anh tôi, nhưng bây giờ anh ấy không còn nữa, và
tôi sẽ không bao giờ biết được anh ấy ở đâu.
"Giữa anh ấy và chúng ta đã
bị cắt đứt mọi mối liên lạc. Anh ấy không còn nữa đối với chúng ta, và chúng ta
cũng sẽ không còn nữa đối với những ai ở lại sau ta. Đó là gì nếu không phải là
cái chết?" Những người không hiểu cuộc sống nói như vậy, họ nhìn thấy trong sự
chấm dứt giao tiếp bên ngoài một bằng chứng không thể hồ nghi nhất về cái chết
thực sự. Tuy nhiên, không ở đâu tính hư ảo của quan niệm về cái chết lại hiện ra
rõ ràng và hiển nhiên như là ở sự chấm dứt cuộc sống thân xác của những người
thân. Anh tôi đã chết, và chuyện gì đã xảy ra? Xảy ra chuyện là những biểu hiện
về mối quan hệ của anh ấy với thế giới từng khả thể đối với sự quan sát của tôi
trong không gian và thời gian nay đã biến mất khỏi tầm mắt tôi và không còn lại
gì cả.
"Không còn lại cái gì cả" -
con nhộng chưa nở thành bướm có lẽ sẽ nói như vậy khí nhìn thấy cái kén nằm bên
cạnh nó giờ đã rỗng không. Nhưng con nhộng có thể nói thế, nếu như nó có thể suy
nghĩ và nói được, bởi vì khi đã mất đi người bạn hàng xóm của mình, thì nó thực
sự sẽ không còn cảm thấy chút gì về bạn nó nữa. Nhưng điều đó không xảy ra với
con người. Anh tôi mất đi, cái kén của anh ấy, quả thật, giờ đã rỗng không, tôi
không thấy anh ấy dưới hình dạng mà trước đấy tôi thấy anh ấy nữa, nhưng sự biến
mất của anh khỏi mắt tôi không hủy diệt được quan hệ của tôi với anh ấy. Trong
tôi vẫn còn lại, như chúng ta nói, hồi ức về anh ấy.
Còn lại hồi ức - không phải
hồi ức về đôi tay, khuôn mặt, đôi mắt, mà là hồi ức về hình ảnh tinh thần của
anh ấy.
Hồi ức đó là cái gì? Một từ
thật đơn giản, dễ hiểu, như ta vẫn tưởng! Hình thức của các tinh thể, của các
con vật biến mất, và giữa chúng không thể có hồi ức về nhau. Còn tôi có hồi ức
về bạn tôi – anh tôi. Và cuộc sống của người bạn và người anh
của tôi càng tương hợp hơn với quy luật của trí tuệ, càng được biểu hiện nhiều
hơn trong tình yêu, thì hồi ức ấy lại càng sống động. Hồi ức ấy không phải chỉ
là sự hình dung, mà còn là một cái gì đấy tác động đến tôi y như cuộc sống của
anh tôi đã từng tác động đến tôi khi anh ấy còn tồn tại trên trần gian. Hồi ức
ấy chính là cái bầu không khí phi vật chất, vô hình của riêng anh tôi, bao quanh
cuộc sống của anh tôi và tác động tới tôi và tới những người khác khi anh ấy còn
tồn tại trong thân xác, hệt như nó tác động tới tôi cả sau khi anh ấy đã chết.
Hồi ức ấy đòi hỏi ở tôi bây giờ, sau khi anh ấy đã chết, vẫn những gì nó đã đòi
hỏi khi anh ấy còn sống. Hơn thế nữa, hồi ức ấy sau khi anh ấy đã chết trở nên
bức bách đối vói tôi hơn là khi anh ấy còn sống. Lực sống từng có trong anh tôi
không những không mất đi, không suy giảm, không nguyên như cũ, mà thậm chí nó
gia tăng và tác động tới tôi mạnh hơn trước kia.
Lực sống của anh tôi sau cái
chết thân xác vẫn tác động y như thế thậm chí còn mạnh hơn so với trước khi chết
và tác động như là tất cả những gì sống động thực sự. Vậy trên cơ sở nào, trong
khi tôi vẫn cảm thấy trên bản thân mình cái lực sống ấy, y như khi anh tôi còn
tồn tại trong thân xác, hay là cái quan hệ ấy của anh với thế giới, mà nó đã
giúp tôi hiểu rõ quan hệ của mình với thế giới - trên cơ sở nào tôi có thể khẳng
định rằng người anh đã qua đời của tôi không còn sự sống nữa? Tôi có thể nói
rằng anh ấy đã bước ra khỏi mối quan hệ cấp thấp hơn đối với thế giới, mà với tư
cách một sinh vật, anh từng, còn tôi thì đang ở trong đó - tất cả chỉ có thế
thôi; tôi có thể nói rằng tôi không thấy trung tâm của mối quan hệ mới với thế
giới mà hiện giờ anh đang ở trong đó; nhưng tôi không thể phủ định sự sống của
anh, bởi vì tôi cảm thấy trên bản thân mình sức mạnh của nó. Qua gương phản
chiếu tôi từng thấy một người đang đỡ tôi; tấm gương phản chiếu đã mờ đi. Tôi
không nhìn thấy người ấy đỡ tôi như thế nào nữa, nhưng bằng tất cả con người,
tôi cảm thấy anh ta vẫn đỡ tôi như cũ, và như vậy anh ta vẫn tồn tại.
Song còn hơn thế nữa, cuộc
sống của người anh đã mất của tôi, mà tôi không thể thấy được nữa, không chỉ tác
động, mà nó còn thâm nhập vào tôi. Cái tôi sống động đặc thù của anh ấy, quan hệ
của anh ấy với thế giới trở thành quan hệ của tôi với thế giới. Dường như bằng
sự thiết lập quan hệ với thế giới anh đã nâng tôi lên nấc thang mà anh đang đứng
trên đó; và tôi, cái tôi sống động đặc thù của tôi, cảm thấy rõ hơn nấc thang
tiếp theo mà anh đã bước lên; tuy đã ẩn kín trước mắt tôi, nhưng anh vẫn tự lôi
kéo tôi theo anh. Tôi nhận thức như vậy về cuộc sống của người anh đã yên ngủ
bằng cái chết thân xác và vì thế tôi không thể nghi ngờ về nó; và qụan sát những
tác động đến thế giới của cuộc sống đã biến mất khỏi tầm mắt tôi, tôi tin tường
chắc chắn vào tính hữu thực của cuộc sống không còn hiển hiện trước mắt tôi ấy.
Con người chết đi, nhưng quan hệ của anh ta với thế giới tiếp tục tác động đến
những người khác, thậm chí không phải như khi anh ta còn sống, mà còn mạnh mẽ
hơn vô vàn lần, và sự tác động ấy gia tăng theo mức độ gia tăng của trí tuệ và
tình yêu và tiếp tục lớn lên như tất cả những gì đang sống, không bao giờ ngừng,
và gián đoạn.
Đức Kitô đã chết rất lâu, và
sự tồn tại thân xác của Ngài rất ngắn ngủi, và chúng ta không hình dung được rõ
ràng về cơ thể bằng xương bằng thịt của Ngài, nhưng sức mạnh cuộc sống trong trí
tuệ và tình yêu của Ngài, quan hệ của Ngài với thế giới thì không mảy may khác
đi, nó tác động đến tận bây giờ tới hàng triệu người đang tiếp nhận quan hệ đó
của Ngài với thế giới và sống bằng nó. Tại sao nó vẫn tác động? Đó là cái gì vậy
- cái mà trước kia từng gắn liền với tồn tại thân xác của Đức Kitô và bây giờ
làm nên sự tiếp tục và phát triển vẫn cuộc sống ấy của Ngài? Chúng ta nói: đó
không phải là cuộc sống của Đức Kitô, mà là hậu quả của nó. Và nói xong những
lời vô nghĩa ấy, chúng ta tưởng là vừa nói ra một cái gì đó rõ ràng hơn và xác
định hơn điều khẳng định rằng sức mạnh ấy là chính Đức Kitô hằng sống. Bởi lẽ
những con kiến từng kiếm mồi bên một quả sồi, mà nay đã mọc lên và trở thành một
cây sồi cũng tương tự như vậy; quả sồi đã mọc và đã trở thành một cây sồi đâm rễ
tứ tung xuống đất, trút xuống đất các cành khô, lá cây, những quả sồi mới, che
nắng che mưa, làm đổi thay tất cả những gì sống quanh nó. "Đó không phải là cuộc
sống của quả sồi" - những con kiến sẽ nói - "mà là những hậu quả cuộc sống của
nó, còn cuộc sống ấy thì đã kết thúc khi chúng tôi tha quả sồi ấy và thả xuống
một cái lỗ."
Anh tôi đã chết hôm qua hay
hàng nghìn năm về trước, song sức mạnh cuộc sống của anh ấy, như nó từng tác
động khi anh ấy còn sống bằng xương bằng thịt sẽ tiếp tục tác động còn mạnh mẽ
hơn nữa trong tôi và trong hàng trăm, hàng nghìn, hàng triệu con người, mặc dù
trung tâm của cái sức mạnh mà tôi từng nhìn thấy khi anh còn tồn tại trong thể
xác tạm thời đã biến mất khỏi mắt tôi. Điều ấy có nghĩa là gì? Tôi nhìn thấy ánh
sáng từ đám cỏ đang cháy trước mặt. Đám cỏ ấy lụi đi, nhưng ánh sáng càng bùng
lên: tôi không thấy được nguyên nhân của ánh sang ấy, tôi không biết cái gì đang
cháy, nhưng có thể kết luận rằng vẫn ngọn lửa đã thiêu cháy đám cỏ, bây giờ đang
thiêu cháy tiếp cánh rừng xa xa, hay một cái gì đấy mà tôi không thể trông thấy.
Nhưng đó là thứ ánh sáng mà tôi không chỉ thấy nó lúc này, nó là thứ duy nhất
dẫn đường chỉ lối và mang lại cho tôi cuộc sống. Tôi sống bằng ánh sáng đó. Thế
thì làm sao tôi có thể phủ định nó? Tôi có thể nghĩ rằng sức mạnh của cuộc sống
ấy bây giờ đã có một trung tâm khác mà tôi không thấy được. Nhưng phủ định nó
thì tôi không thể, bởi vì tôi cảm thấy nó, vận động và sống bằng nó. Cái trung
tâm ấy là thế nào, sức mạnh ấy tự thân nó ra sao, tôi không thể biết - tôi có
thể phỏng đoán, nếu như tôi thích phỏng đoán và không sợ nhầm lẫn. Song nếu tôi
muốn tìm đích thị một sự trí hội về cuộc sống, thì tôi sẽ chỉ thỏa mãn với những
hiểu biết rõ ràng, chắc chắn, và tôi không muốn làm hỏng sự hiểu biết rõ ràng,
chắc chắn ấy bởi ảnh hưởng của những phỏng đoán tùy tiện và khả nghi. Với tôi
thế là đủ nếu tôi biết rằng tất cả những gì cho tôi cuộc sống đều được tạo ra từ
cuộc sống của những người sống trước tôi và đã chết từ lâu, và vì thế bất kì một
ai tuân theo quy luật của cuộc sống, buộc cá thể sinh vật của mình tuân phục trí
tuệ và thể hiện sức mạnh của tình yêu, đều đã và đang sống trong những người
khác sau khi cuộc sinh tồn trong thân xác của họ biến mất - thì niềm tin dị đoan
nhảm nhí và khủng khiếp về cái chết sẽ không bao giờ giày vò tôi nữa.
Ở những người để lại sau
mình cái sức mạnh vẫn tiếp tục hoạt động, chúng ta có thể quan sát thêm một
điều, ấy là vì lẽ gì, sau khi đã buộc được cái cá thể của mình quy phục tuân
theo trí tuệ và hiến mình cho cuộc sống của tình yêu, họ không bao giờ nghi ngờ
và không thể nghi ngờ về sự bất khả hủy diệt của cuộc sống.
Trong cuộc sống của những
người ấy, chúng ta có thể tìm thấy cơ sở của niềm tin nơi họ vào sự bất tận của
cuộc sống và sau đó, khi đi sâu vào cuộc sống của chính bản thân mình, thì chúng
ta cũng sẽ tìm ra ở ngay trong mình những cơ sở ấy. Đức Kitô nói rằng Ngài sẽ
sống sau khi bóng ma của cuộc sống biến mất. Ngài nói thế là vì ngay khi còn tồn
tại trong thân xác, Ngài đã bước vào một cuộc sống đích thực, cuộc sống ấy không
thể chấm dứt. Ngài đã sống trong tồn tại thân xác của mình dưới những tia sáng
tỏa ra từ một trung tâm sống khác mà Ngài đang đi đến đó, và sinh thời đã nhìn
thấy những tia sáng ấy soi sáng cho những người xung quanh Ngài như thế nào. Bất
kì ai chối từ cái cá thể và sống bằng cuộc sống của trí tuệ và tình yêu cũng đều
nhận thấy chính điều đó.
Dù phạm vi hoạt động của con
người có hạn hẹp đến đâu - dẫu là Đức Kitô, hay Socrates, hay một cụ già vô danh
tốt bụng và đầy lòng hi sinh, hay một chàng trai, một phụ nữ - nếu họ sống mà
biết khước từ cái cá thể vì hạnh phúc của những người khác, thì ngay ở đây,
trong cuộc sống này họ đã bước vào mối quan hệ
mới với thế giới mà trong đó không có cái chết và việc thiết lập quan hệ ấy là
công việc của cả đời đối với tất cả mọi người.
Một người nhận ra cuộc sống của mình trong việc tuân theo luật
của trí tuệ và thể hiện tình yêu ắt nhìn thấy trong cuộc sống ấy, một mặt, là
những tia sáng của trung tâm mới của sự sống mà anh ta đang đi tới đó, mặt khác,
là tác động mà ánh sáng ấy chiếu rọi qua anh ta, gây ra cho những người xung
quanh. Và điều đó mang tới cho anh ta niềm tin chắc chắn vào sự không suy tàn,
bất tử và gia tăng vĩnh cửu của cuộc sống. Không thể tiếp nhận niềm tin vào sự
bất tử từ một người nào đấy, cũng không thể tự thuyết phục mình về sự bất tử. Để
có được niềm tin vào sự bất tử, cần phải có sự
bất tử, mà để có được sự bất tử, cần phải hiểu cuộc sống của mình bất tử ở chỗ
nào. Chỉ ai đã thực hiện xong công việc của cả đời mình, đã thiết lập trong cuộc
đời ấy quan hệ mới với thế giới mà mối quan hệ ấy đã không còn xếp gọn được
trong con người anh ta - chỉ người ấy mới có thể tin vào cuộc sống tương
lai.
Thứ Sáu, 24 tháng 4, 2020
Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2020
Một chuyến Miền tây
Hà Tiên sóng biển dập dồn
Thương em miệt biển có hồn bao la
Thương em miệt biển có hồn bao la
Những ngày cuối năm. Chuyến xe cuối cùng từ Châu Đốc vội vã đưa vài hành khách cuối cùng về với thành phố biển; QLN1 nhỏ men theo con kênh Vĩnh Tế dài bất tận, con đường e ấp ôm lấy con kênh dài hàng trăm km như tình anh và em, như ngày và đêm vĩnh cửu. Và rồi Hà Tiên chào đón y bằng những làn tươi gió mát se se lạnh từ biển thổi vào. Đêm thành phố biển Hà Tiên rộn rã vui tươi, những chiếc xe lôi nhấp nháy ánh đèn led dập dìu đưa khách thập phương vãng cảnh, đó đây vang lên những giai điệu bolero trầm lắng hay vài câu vọng cổ ngọt ngào từ những vỉa hè quanh phố ven biển. Và đặc biệt là lũ yến rộn ràng nơi nơi, phá vỡ khung cảnh yên bình của một thành phố biển nên thơ nơi đây. Những ngày cuối năm, y tạm xa gia đình nhỏ để đi đến một nơi xa hằng mong tìm chút yên tĩnh, nhưng liệu có tìm được hay không? Chắc có lẽ ông Lâm Ngữ Đường nói đúng, đâu cần tìm sự tịnh tâm ở đâu xa nơi thôn quê yên vắng hay ở núi rừng sâu thẳm, mà chỉ cần tìm nó tận sâu trong nội tâm của mình mà thôi.
Bình minh bắt đầu bừng sáng ở phía đông xa xa. Khung cảnh thành phố biển xinh đẹp dần dần hiện ra rạng rỡ. Phía dưới cầu cảng cá, những chiếc ghe máy đánh lưới bắt cá của những ngư dân đã cập cảng từ tờ mờ sáng. Họ ngồi đó với ánh đèn pin lấp loáng trên đầu phân loại các loài hải sản. Thằng bé trạc tuổi con y phải nghỉ học sớm để mưu sinh cùng ba mẹ nó và họ đã bắt đầu cuộc mưu sinh từ 2h sáng. Sóng biển ầm ì, dập dềnh đều đặn. Những chiếc thuyền con dập dềnh lắc lư theo nhịp sóng, dập dềnh lênh đênh như chính cuộc sống bấp bênh của họ. Phía bên kia, ánh đèn lấp lánh từ khách sạn River dần tắt để đón ánh bình minh, du khách thư thái bên những ly cà phê Ý Capuchino bốc khói thơm lừng.
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)









