Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2020

CUỘC SỐNG CỦA NHỮNG NGƯỜI ĐÃ CHẾT KHÔNG CHẤM DỨT TRONG THẾ GIỚI NÀY

LEV TOLSTOI
(Trích Đường Sống)

Nhưng niềm tin dị đoan về cái chết còn trở nên rõ ràng hơn, không nói từ phương diện khác, mà chỉ xét từ chính thực chất cuộc sống như chúng ta nhận thức về nó. Một người anh của tôi đã từng sống như tôi, song bây giờ không còn sống như tôi đang sống nữa. Cuộc sống của anh ấy từng là ý thức của anh ấy và nó đã diễn ra trong những điều kiện tồn tại thể xác của anh ấy; có nghĩa là giờ đây không còn nơi chốn và thời gian cho sự hiển lộ ý thức của anh ấy, và anh ấy không còn nữa đối với tôi. Anh tôi từng tồn tại, tôi từng giao tiếp với anh tôi, nhưng bây giờ anh ấy không còn nữa, và tôi sẽ không bao giờ biết được anh ấy ở đâu.
"Giữa anh ấy và chúng ta đã bị cắt đứt mọi mối liên lạc. Anh ấy không còn nữa đối với chúng ta, và chúng ta cũng sẽ không còn nữa đối với những ai ở lại sau ta. Đó là gì nếu không phải là cái chết?" Những người không hiểu cuộc sống nói như vậy, họ nhìn thấy trong sự chấm dứt giao tiếp bên ngoài một bằng chứng không thể hồ nghi nhất về cái chết thực sự. Tuy nhiên, không ở đâu tính hư ảo của quan niệm về cái chết lại hiện ra rõ ràng và hiển nhiên như là ở sự chấm dứt cuộc sống thân xác của những người thân. Anh tôi đã chết, và chuyện gì đã xảy ra? Xảy ra chuyện là những biểu hiện về mối quan hệ của anh ấy với thế giới từng khả thể đối với sự quan sát của tôi trong không gian và thời gian nay đã biến mất khỏi tầm mắt tôi và không còn lại gì cả.
"Không còn lại cái gì cả" - con nhộng chưa nở thành bướm có lẽ sẽ nói như vậy khí nhìn thấy cái kén nằm bên cạnh nó giờ đã rỗng không. Nhưng con nhộng có thể nói thế, nếu như nó có thể suy nghĩ và nói được, bởi vì khi đã mất đi người bạn hàng xóm của mình, thì nó thực sự sẽ không còn cảm thấy chút gì về bạn nó nữa. Nhưng điều đó không xảy ra với con người. Anh tôi mất đi, cái kén của anh ấy, quả thật, giờ đã rỗng không, tôi không thấy anh ấy dưới hình dạng mà trước đấy tôi thấy anh ấy nữa, nhưng sự biến mất của anh khỏi mắt tôi không hủy diệt được quan hệ của tôi với anh ấy. Trong tôi vẫn còn lại, như chúng ta nói, hồi ức về anh ấy.
Còn lại hồi ức - không phải hồi ức về đôi tay, khuôn mặt, đôi mắt, mà là hồi ức về hình ảnh tinh thần của anh ấy.
Hồi ức đó là cái gì? Một từ thật đơn giản, dễ hiểu, như ta vẫn tưởng! Hình thức của các tinh thể, của các con vật biến mất, và giữa chúng không thể có hồi ức về nhau. Còn tôi có hồi ức về bạn tôi – anh tôi. Và cuộc sống của người bạn và người anh của tôi càng tương hợp hơn với quy luật của trí tuệ, càng được biểu hiện nhiều hơn trong tình yêu, thì hồi ức ấy lại càng sống động. Hồi ức ấy không phải chỉ là sự hình dung, mà còn là một cái gì đấy tác động đến tôi y như cuộc sống của anh tôi đã từng tác động đến tôi khi anh ấy còn tồn tại trên trần gian. Hồi ức ấy chính là cái bầu không khí phi vật chất, vô hình của riêng anh tôi, bao quanh cuộc sống của anh tôi và tác động tới tôi và tới những người khác khi anh ấy còn tồn tại trong thân xác, hệt như nó tác động tới tôi cả sau khi anh ấy đã chết. Hồi ức ấy đòi hỏi ở tôi bây giờ, sau khi anh ấy đã chết, vẫn những gì nó đã đòi hỏi khi anh ấy còn sống. Hơn thế nữa, hồi ức ấy sau khi anh ấy đã chết trở nên bức bách đối vói tôi hơn là khi anh ấy còn sống. Lực sống từng có trong anh tôi không những không mất đi, không suy giảm, không nguyên như cũ, mà thậm chí nó gia tăng và tác động tới tôi mạnh hơn trước kia.

Lực sống của anh tôi sau cái chết thân xác vẫn tác động y như thế thậm chí còn mạnh hơn so với trước khi chết và tác động như là tất cả những gì sống động thực sự. Vậy trên cơ sở nào, trong khi tôi vẫn cảm thấy trên bản thân mình cái lực sống ấy, y như khi anh tôi còn tồn tại trong thân xác, hay là cái quan hệ ấy của anh với thế giới, mà nó đã giúp tôi hiểu rõ quan hệ của mình với thế giới - trên cơ sở nào tôi có thể khẳng định rằng người anh đã qua đời của tôi không còn sự sống nữa? Tôi có thể nói rằng anh ấy đã bước ra khỏi mối quan hệ cấp thấp hơn đối với thế giới, mà với tư cách một sinh vật, anh từng, còn tôi thì đang ở trong đó - tất cả chỉ có thế thôi; tôi có thể nói rằng tôi không thấy trung tâm của mối quan hệ mới với thế giới mà hiện giờ anh đang ở trong đó; nhưng tôi không thể phủ định sự sống của anh, bởi vì tôi cảm thấy trên bản thân mình sức mạnh của nó. Qua gương phản chiếu tôi từng thấy một người đang đỡ tôi; tấm gương phản chiếu đã mờ đi. Tôi không nhìn thấy người ấy đỡ tôi như thế nào nữa, nhưng bằng tất cả con người, tôi cảm thấy anh ta vẫn đỡ tôi như cũ, và như vậy anh ta vẫn tồn tại.

Song còn hơn thế nữa, cuộc sống của người anh đã mất của tôi, mà tôi không thể thấy được nữa, không chỉ tác động, mà nó còn thâm nhập vào tôi. Cái tôi sống động đặc thù của anh ấy, quan hệ của anh ấy với thế giới trở thành quan hệ của tôi với thế giới. Dường như bằng sự thiết lập quan hệ với thế giới anh đã nâng tôi lên nấc thang mà anh đang đứng trên đó; và tôi, cái tôi sống động đặc thù của tôi, cảm thấy rõ hơn nấc thang tiếp theo mà anh đã bước lên; tuy đã ẩn kín trước mắt tôi, nhưng anh vẫn tự lôi kéo tôi theo anh. Tôi nhận thức như vậy về cuộc sống của người anh đã yên ngủ bằng cái chết thân xác và vì thế tôi không thể nghi ngờ về nó; và qụan sát những tác động đến thế giới của cuộc sống đã biến mất khỏi tầm mắt tôi, tôi tin tường chắc chắn vào tính hữu thực của cuộc sống không còn hiển hiện trước mắt tôi ấy. Con người chết đi, nhưng quan hệ của anh ta với thế giới tiếp tục tác động đến những người khác, thậm chí không phải như khi anh ta còn sống, mà còn mạnh mẽ hơn vô vàn lần, và sự tác động ấy gia tăng theo mức độ gia tăng của trí tuệ và tình yêu và tiếp tục lớn lên như tất cả những gì đang sống, không bao giờ ngừng, và gián đoạn.

Đức Kitô đã chết rất lâu, và sự tồn tại thân xác của Ngài rất ngắn ngủi, và chúng ta không hình dung được rõ ràng về cơ thể bằng xương bằng thịt của Ngài, nhưng sức mạnh cuộc sống trong trí tuệ và tình yêu của Ngài, quan hệ của Ngài với thế giới thì không mảy may khác đi, nó tác động đến tận bây giờ tới hàng triệu người đang tiếp nhận quan hệ đó của Ngài với thế giới và sống bằng nó. Tại sao nó vẫn tác động? Đó là cái gì vậy - cái mà trước kia từng gắn liền với tồn tại thân xác của Đức Kitô và bây giờ làm nên sự tiếp tục và phát triển vẫn cuộc sống ấy của Ngài? Chúng ta nói: đó không phải là cuộc sống của Đức Kitô, mà là hậu quả của nó. Và nói xong những lời vô nghĩa ấy, chúng ta tưởng là vừa nói ra một cái gì đó rõ ràng hơn và xác định hơn điều khẳng định rằng sức mạnh ấy là chính Đức Kitô hằng sống. Bởi lẽ những con kiến từng kiếm mồi bên một quả sồi, mà nay đã mọc lên và trở thành một cây sồi cũng tương tự như vậy; quả sồi đã mọc và đã trở thành một cây sồi đâm rễ tứ tung xuống đất, trút xuống đất các cành khô, lá cây, những quả sồi mới, che nắng che mưa, làm đổi thay tất cả những gì sống quanh nó. "Đó không phải là cuộc sống của quả sồi" - những con kiến sẽ nói - "mà là những hậu quả cuộc sống của nó, còn cuộc sống ấy thì đã kết thúc khi chúng tôi tha quả sồi ấy và thả xuống một cái lỗ."

Anh tôi đã chết hôm qua hay hàng nghìn năm về trước, song sức mạnh cuộc sống của anh ấy, như nó từng tác động khi anh ấy còn sống bằng xương bằng thịt sẽ tiếp tục tác động còn mạnh mẽ hơn nữa trong tôi và trong hàng trăm, hàng nghìn, hàng triệu con người, mặc dù trung tâm của cái sức mạnh mà tôi từng nhìn thấy khi anh còn tồn tại trong thể xác tạm thời đã biến mất khỏi mắt tôi. Điều ấy có nghĩa là gì? Tôi nhìn thấy ánh sáng từ đám cỏ đang cháy trước mặt. Đám cỏ ấy lụi đi, nhưng ánh sáng càng bùng lên: tôi không thấy được nguyên nhân của ánh sang ấy, tôi không biết cái gì đang cháy, nhưng có thể kết luận rằng vẫn ngọn lửa đã thiêu cháy đám cỏ, bây giờ đang thiêu cháy tiếp cánh rừng xa xa, hay một cái gì đấy mà tôi không thể trông thấy. Nhưng đó là thứ ánh sáng mà tôi không chỉ thấy nó lúc này, nó là thứ duy nhất dẫn đường chỉ lối và mang lại cho tôi cuộc sống. Tôi sống bằng ánh sáng đó. Thế thì làm sao tôi có thể phủ định nó? Tôi có thể nghĩ rằng sức mạnh của cuộc sống ấy bây giờ đã có một trung tâm khác mà tôi không thấy được. Nhưng phủ định nó thì tôi không thể, bởi vì tôi cảm thấy nó, vận động và sống bằng nó. Cái trung tâm ấy là thế nào, sức mạnh ấy tự thân nó ra sao, tôi không thể biết - tôi có thể phỏng đoán, nếu như tôi thích phỏng đoán và không sợ nhầm lẫn. Song nếu tôi muốn tìm đích thị một sự trí hội về cuộc sống, thì tôi sẽ chỉ thỏa mãn với những hiểu biết rõ ràng, chắc chắn, và tôi không muốn làm hỏng sự hiểu biết rõ ràng, chắc chắn ấy bởi ảnh hưởng của những phỏng đoán tùy tiện và khả nghi. Với tôi thế là đủ nếu tôi biết rằng tất cả những gì cho tôi cuộc sống đều được tạo ra từ cuộc sống của những người sống trước tôi và đã chết từ lâu, và vì thế bất kì một ai tuân theo quy luật của cuộc sống, buộc cá thể sinh vật của mình tuân phục trí tuệ và thể hiện sức mạnh của tình yêu, đều đã và đang sống trong những người khác sau khi cuộc sinh tồn trong thân xác của họ biến mất - thì niềm tin dị đoan nhảm nhí và khủng khiếp về cái chết sẽ không bao giờ giày vò tôi nữa.

Ở những người để lại sau mình cái sức mạnh vẫn tiếp tục hoạt động, chúng ta có thể quan sát thêm một điều, ấy là vì lẽ gì, sau khi đã buộc được cái cá thể của mình quy phục tuân theo trí tuệ và hiến mình cho cuộc sống của tình yêu, họ không bao giờ nghi ngờ và không thể nghi ngờ về sự bất khả hủy diệt của cuộc sống.

Trong cuộc sống của những người ấy, chúng ta có thể tìm thấy cơ sở của niềm tin nơi họ vào sự bất tận của cuộc sống và sau đó, khi đi sâu vào cuộc sống của chính bản thân mình, thì chúng ta cũng sẽ tìm ra ở ngay trong mình những cơ sở ấy. Đức Kitô nói rằng Ngài sẽ sống sau khi bóng ma của cuộc sống biến mất. Ngài nói thế là vì ngay khi còn tồn tại trong thân xác, Ngài đã bước vào một cuộc sống đích thực, cuộc sống ấy không thể chấm dứt. Ngài đã sống trong tồn tại thân xác của mình dưới những tia sáng tỏa ra từ một trung tâm sống khác mà Ngài đang đi đến đó, và sinh thời đã nhìn thấy những tia sáng ấy soi sáng cho những người xung quanh Ngài như thế nào. Bất kì ai chối từ cái cá thể và sống bằng cuộc sống của trí tuệ và tình yêu cũng đều nhận thấy chính điều đó.
Dù phạm vi hoạt động của con người có hạn hẹp đến đâu - dẫu là Đức Kitô, hay Socrates, hay một cụ già vô danh tốt bụng và đầy lòng hi sinh, hay một chàng trai, một phụ nữ - nếu họ sống mà biết khước từ cái cá thể vì hạnh phúc của những người khác, thì ngay ở đây, trong cuộc sống này họ đã bước vào mối quan hệ mới với thế giới mà trong đó không có cái chết và việc thiết lập quan hệ ấy là công việc của cả đời đối với tất cả mọi người.

Một người nhận ra cuộc sống của mình trong việc tuân theo luật của trí tuệ và thể hiện tình yêu ắt nhìn thấy trong cuộc sống ấy, một mặt, là những tia sáng của trung tâm mới của sự sống mà anh ta đang đi tới đó, mặt khác, là tác động mà ánh sáng ấy chiếu rọi qua anh ta, gây ra cho những người xung quanh. Và điều đó mang tới cho anh ta niềm tin chắc chắn vào sự không suy tàn, bất tử và gia tăng vĩnh cửu của cuộc sống. Không thể tiếp nhận niềm tin vào sự bất tử từ một người nào đấy, cũng không thể tự thuyết phục mình về sự bất tử. Để có được niềm tin vào sự bất tử, cần phải có sự bất tử, mà để có được sự bất tử, cần phải hiểu cuộc sống của mình bất tử ở chỗ nào. Chỉ ai đã thực hiện xong công việc của cả đời mình, đã thiết lập trong cuộc đời ấy quan hệ mới với thế giới mà mối quan hệ ấy đã không còn xếp gọn được trong con người anh ta - chỉ người ấy mới có thể tin vào cuộc sống tương lai. 

Chủ Nhật, 19 tháng 4, 2020

Một chuyến Miền tây

Hà Tiên sóng biển dập dồn
Thương em miệt biển có hồn bao la
Những ngày cuối năm. Chuyến xe cuối cùng từ Châu Đốc vội vã đưa vài hành khách cuối cùng về với thành phố biển; QLN1 nhỏ men theo con kênh Vĩnh Tế dài bất tận, con đường e ấp ôm lấy con kênh dài hàng trăm km như tình anh và em, như ngày và đêm vĩnh cửu. Và rồi Hà Tiên chào đón y bằng những làn tươi gió mát se se lạnh từ biển thổi vào. Đêm thành phố biển Hà Tiên rộn rã vui tươi, những chiếc xe lôi nhấp nháy ánh đèn led dập dìu đưa khách thập phương vãng cảnh, đó đây vang lên những giai điệu bolero trầm lắng hay vài câu vọng cổ ngọt ngào từ những vỉa hè quanh phố ven biển. Và đặc biệt là lũ yến rộn ràng nơi nơi, phá vỡ khung cảnh yên bình của một thành phố biển nên thơ nơi đây. Những ngày cuối năm, y tạm xa gia đình nhỏ để đi đến một nơi xa hằng mong tìm chút yên tĩnh, nhưng liệu có tìm được hay không? Chắc có lẽ ông Lâm Ngữ Đường nói đúng, đâu cần tìm sự tịnh tâm ở đâu xa nơi thôn quê yên vắng hay ở núi rừng sâu thẳm, mà chỉ cần tìm nó tận sâu trong nội tâm của mình mà thôi.
Bình minh bắt đầu bừng sáng ở phía đông xa xa. Khung cảnh thành phố biển xinh đẹp dần dần hiện ra rạng rỡ. Phía dưới cầu cảng cá, những chiếc ghe máy đánh lưới bắt cá của những ngư dân đã cập cảng từ tờ mờ sáng. Họ ngồi đó với ánh đèn pin lấp loáng trên đầu phân loại các loài hải sản. Thằng bé trạc tuổi con y phải nghỉ học sớm để mưu sinh cùng ba mẹ nó và họ đã bắt đầu cuộc mưu sinh từ 2h sáng. Sóng biển ầm ì, dập dềnh đều đặn. Những chiếc thuyền con dập dềnh lắc lư theo nhịp sóng, dập dềnh lênh đênh như chính cuộc sống bấp bênh của họ. Phía bên kia, ánh đèn lấp lánh từ khách sạn River dần tắt để đón ánh bình minh, du khách thư thái bên những ly cà phê Ý Capuchino bốc khói thơm lừng.

Xem chiếu bóng

- Cô ơi, hôm nay cô xinh quá. Cô cho cháu theo vào sân chiếu bóng nhé.
Cô gái trẻ nhìn tôi, chợt mỉm cười và nắm tay tôi len lỏi cùng dòng người đông đúc vào sân chiếu phim. Rạp chiếu phim là một sân trường mẫu giáo lộ thiên, máy chiếu quay rè rè chiếu những thước phim chiến đấu lên màn hình rộng phía trước. Và đó là một trong những cách mà tôi và lũ bạn hàng xóm thường dùng để vào sân miễn phí. Đôi khi chúng tôi tìm cách nhảy rào, và đôi khi nhảy trúng vào cái hào đá phía trong làm què chân vài đứa, thoảng hoặc dẫm phải những bãi mìn thơm thum thủm.
Bãi chiếu phim cách thôn chúng tôi khoảng 3 cây số, chúng tôi thường đi bộ dọc theo đường tàu để đến bãi chiếu. Có nhiều khi đến giữa cầu Ba Mươi thì tàu vừa tới, chúng tôi phải vào ô tránh giữa cầu, tay bám chặt vào thanh chắn sắt cách đoàn tàu đang lao đi vùn vụt chỉ khoảng 2m. Chúng tôi thường không bỏ sót những bộ phim thể loại chiến đấu nào (của Liên Xô hay của Việt Nam), nhiều khi đến đoạn gay cấn như anh lính hồng quân sắp hôn cô chiến sĩ dưới chiến hào thì màn hình phụt tắt vì hư máy phát điện, sân chiếu bóng sáng mờ mờ bởi ánh trăng vừa ló. Sau đó vài phút, chúng tôi vui mừng la ồ lên khi màn hình rộng bừng sáng cùng với cảnh các chiến sĩ xung phong; bên dưới tôi thấy vài cô chú chỉnh lại áo sống và tỏ ra tiếc rẻ.
Những trải nghiệm đó cách đây khoảng 30 năm thật vui và lưu mãi trong kí ức của tôi. Giờ đây, bọn nhỏ của tôi không biết có vui hơn, háo hức hơn không khi được xem phim mới One Piece Stampede trong phòng lạnh với hệ thống âm thanh sống động. Và tôi là thằng bố rỗi hơi, ngồi chờ chúng, nhâm nhi ly cafe Phúc Long, hoài niệm về kỉ niệm xem chiếu bóng thời ấu thơ, và viết vài dòng kí ức vụn một thời đã xa.

Melaka

Chiều tàn dần buông trên dòng sông bên khu phố cổ Melaka, Malaysia. Những chùm đèn lồng đỏ lắc lư theo những làn gió nhẹ từ biển thổi vào làm tôi nhớ đến khu phố cổ Hội An thân thương, Melaka và Hội An thoạt trông có những nét tương đồng, màu vàng tàn phai lẫn rêu phong mang dấu ấn của thời gian. Hội An trong mắt tôi vẫn đẹp hơn, cổ kính hơn, một cái đẹp dịu dàng như người con gái xuân thì xứ Quảng. Màu và mùi của quá khứ làm lòng người lữ khách xao xuyến bâng khuâng hồi tưởng về bao kỷ niệm êm đềm ngày xưa. Từng cơn gió chiều muộn cuộn nỗi nhớ vào trong tâm trí, mùi tóc thơm hương bưởi dịu nhẹ của người cũ cứ như phảng phất đâu đây.
Chiều Melaka, Malaysia.

MUỐI VÀ TIÊU

Márai Sandor
"Khoảng thời gian mười năm, giữa tuổi bốn mươi và năm mươi, người Pháp gọi là “tuổi muối tiêu”. Người ta ám chỉ mái tóc, màu đen hạt tiêu đã bắt đầu lẫn với những sợi trắng màu muối mang vẻ thông thái. Ngụ ý nói người ở tuổi này đã điềm tĩnh hơn: không còn cay nghiệt và nóng vội, muốn gìn giữ và cứu vớt. Người ta cũng ngụ ý nói về cuộc đời, ở tuổi này đã buồn tẻ hơn, nhạt nhẽo hơn.
Liệu cuộc sống ở tuổi giữa bốn và năm mươi, giữa muối và tiêu, có buồn tẻ nhạt nhẽo hơn chăng? Đôi khi có vẻ như cuộc sống chưa bao giờ đích thực và sinh động như thế. Giữa tuổi bốn và năm mươi, người ta không sống vì những mục tiêu xa và cũng không sống cho khoảnh khắc, không tham lam như lớp trẻ và tuổi già: đó là tuổi chúng ta sống cho thực tại, cho ngày và đêm, sống thực cho ngày hôm nay, từ khi thức giấc đến lúc thiếp ngủ, cẩn thận và biết ơn, tinh tường và nhẫn nại, gần như hạnh phúc. Vì không có hạnh phúc nào khác, chỉ có sự tìm tòi, chấp nhận và hiểu biết thực tại.
Thế giới chưa phải một màu xám... chỉ như đầu tháng Mười, vào một buổi chiều sương giăng. Đâu đó văng vẳng tiếng nhạc, nắng vẫn chiếu trên những ngọn núi, ở một nơi nào đó người ta vẫn suy nghĩ và hiểu ta, ở đâu đó chúng ta vẫn còn công việc trong thế giới này... ơn Chúa! Hãy dừng lại và lặng im, khoanh tay trước ngực và mỉm cười, giữa bốn mươi và năm mươi, giữa muối và tiêu."
(hình: Internet)

GIẤC MƠ BÊN RỪNG

Cơn mưa rừng tuôn nước xối xả kèm theo những cuộn lốc xoáy mạnh hất từng màn nước tạt vào bàn chúng tôi đang bù khú giữa một trang trại trong khu rừng Mã Đà vắng vẻ. Món nhậu đơn sơ, cá lăng hồ hai món mà chúng tôi tự vào bếp. Thằng T mới tậu được mảnh vườn hơn 01 héc trong khu rừng Mã Đà gần 01 năm nay, tự tay nó xoay xở tất cả mọi thứ - giờ đang hiện hình hài một khu vườn tươi xanh trù phú. Tôi thật ngưỡng mộ và khâm phục ý chí và năng lực của nó, lúc này trông nó thật tự do – hai chữ mà những gã chúng tôi luôn mong ước. Nó đã thật sự tự giải thoát chăng? Nó như gã Robinson thời hiện đại phóng chiếc Colorado thoắt ẩn thoắt hiện giữa ba nơi Sài Gòn – Bình Dương – Mã Đà hàng tuần. Thằng H, bạn đồng nghiệp và cũng là đồng hương của nó, ngần ngại hỏi dưới công ty anh đang làm cũng có thể có cơ hội kiếm nhiều hơn cảnh vất vả thế này mà? Thằng T mỉm cười im lặng cho qua. Tôi biết nó là thằng có tư tưởng hành động, nó đam mê cái gì là làm ngay, không như tôi ngày ngày suy tư chả làm điều gì ra trò. Và tôi nghĩ nó cũng không phải là thằng thích chạy theo nhưng đam mê tiền bạc phù du, và tôi tôn trọng sự lựa chọn đời sống riêng của nó. Nó nói, những đêm trăng rằm mà ngồi lai lai giữa vườn ngắm trăng tròn, tạm rời xa ánh đèn nhân tạo ở chốn văn minh là quên hết mọi nỗi muộn phiền. Xui cho tôi là hôm nay trăng non mới lấp ló và mưa rừng buồn thúi ruột.
***
Tiếng côn trùng rả rích liên miên, trời đêm thoáng đãng hơn sau cơn mưa, những chòm sao cô đơn lẻ loi nhấp nháy xa xa trong ánh sáng dịu nhẹ của ánh trăng đầu mùa. Dàn đồng ca thiên nhiên rỉ rả ru tôi vào giấc ngủ mơ màng. Tôi mơ thấy tôi đang phiêu du lãng đãng ở đâu đó một nơi rất xa, ở tận nơi cuối cùng của đất nước tôi, trong một chuyến xe đêm chầm chậm lướt qua những miền sông nước mênh mông, lướt qua nhiều trạm dừng chân có những cô em gái bán hàng quán đêm miền tây dễ thương da trắng bóng với giọng nói ngọt ngào; Sóc Trăng, Bạc Liêu rồi tới Cà Mau đất mũi. Ở đó tôi được gặp thật nhiều anh em đồng hương và cả thằng bạn từ thuở ấu thơ. Nó cùng tôi lang thang tận sâu trong vùng đất mũi phù sa, hai bên đường là rừng ngập mặn hoang vu. Thỉnh thoảng có chiếc ô tô lướt qua nhanh, bỏ lại hai thằng tôi chầm chậm trôi không ngừng trong nỗi cô đơn đầy nắng ban trưa của vùng đất mênh mông nước. Rồi phố. Tôi và nó nhập bọn với những gã đồng hương tha hương, nhập vào ánh sáng văn minh đầy sa đọa và khoái lạc của sông nước miền tây. Gà nước nướng muối ớt, cua gạch Cà Mau, rồi bia tràn trề, rồi rượu nhà nấu của những gã bạn mới quen tận ngoài Bắc mang vào trong một chuyến phiêu lưu tò mò khám phá vùng sông nước. Rượu ướp lạnh trên một chiếc bát sành đầy đá lót ny lông, gáo rượu làm bằng nửa trái chanh khoét ruột với cán gáo bằng một chiếc đũa tre, các em miền tây mắt tròn xoe thỏ thẻ các anh uống rượu khác quê em quá sành điệu quá, ở quê em toàn nốc rược bằng ly to chứ không cầu kỳ hoa lá như các anh đây. Tôi nửa tỉnh nửa say, bên tai nghe hình như một nàng tiên miền sông nước thủ thỉ dịu êm. Nàng nói thuyền em đã mênh mông nước, anh có dám bước vào không. Tôi như đi lạc từ hai ngọn đồi thâm thấp trên cao nguyên, rồi chầm chậm lướt êm về phía bình nguyên rồi xuống đám cỏ mịn màng ẩm ướt như sương sớm ban mai. Nóng. Ấm. Tôi trượt dài về một miền xa xôi hoang vắng.
***
Tiếng gà gáy lanh lảnh, tiếng chim ríu rít gọi bầy thức dậy từ tờ mờ sáng kéo tôi ra khỏi giấc mơ đẹp đầy nuối tiếc. Đó là mộng hay là thực, tôi cũng không biết nữa, hay đó là tiềm thức của hiện thực trong quá khứ để rồi trở về trong những giấc mơ. Thằng T đã dậy từ lâu. Tôi bách bộ ra xa về phía khu rừng bảo tồn Mã Đà rồi hòa mình vào dàn đồng ca thiên nhiên ban mai giữa khu rừng hoang vắng nhưng rộn ràng.
Tôi cố tìm tôi tận sâu từ bên trong như các vị đại sư thường bảo, liệu tôi có tìm được chút gì thanh khiết và sự tĩnh tâm bên trong tôi hay nó đã bị vẩn đục và đầy phiền não cmnr bởi những vụn vặt đời thường. Người ta nói tượng hình rằng Chúa là trục tung và Phật là trục hoành cùng ôm lấy và an ủi những vui buồn hạnh phúc bất hạnh lầm lạc tội lỗi của thế gian phàm tục. Còn Thượng Đế của tôi là thiên nhiên huyền bí là trời biển mênh mang là vũ trụ bao la rừng núi hùng vĩ. Giờ đây giữa không gian bát ngát của rừng cây tôi thấy mình như tan biến đi, chỉ có rừng cây muông thú quanh đây là hiện hữu.
Một ngày mới lại bắt đầu.